humghn.com
link download đầy đủ : http://adf.ly/nzfn0
1. Vị trí địa lý
Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của
Hà Nội, trên địa bàn huyện có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam
huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất. Phía
Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về
phía Tây Nam huyện). Phía Tây và phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, với ranh giới là
sông Đà (ở phía Tây) và sông Hồng (sông Thao) (ở phía Bắc). Phía Đông Bắc giáp
huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng. Huyện Ba Vì là một huyện
bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội.
2. Địa hình :Ba Vì là vùng núi cao trung bình nằm ở rìa tây của đồng bằng Bắc Bộ với 3 đỉnh núi cao nhất là: đỉnh Vua-1298 m, đỉnh Tản Viên-1227 m và đỉnh Ngọc Hoa-1180 m và một số đỉnh thấp hơn là: Hang Hùm-776 m, Gia Dê-714 m. Xung quanh là các dãy núi, dãy đồi thấp, lượn sóng xen kẽ với ruộng nước và các thủy vực.
2. Địa hình :Ba Vì là vùng núi cao trung bình nằm ở rìa tây của đồng bằng Bắc Bộ với 3 đỉnh núi cao nhất là: đỉnh Vua-1298 m, đỉnh Tản Viên-1227 m và đỉnh Ngọc Hoa-1180 m và một số đỉnh thấp hơn là: Hang Hùm-776 m, Gia Dê-714 m. Xung quanh là các dãy núi, dãy đồi thấp, lượn sóng xen kẽ với ruộng nước và các thủy vực.
Vùng núi Ba Vì có độ dốc tương đối cao,
với độ dốc trung bình 25◦. Từ cốt 400 trở lên độ dốc trung bình là 35◦ và cao
hơn, thậm chí có nơi lộ ra các vách dựng đứng. Ở khu vực thấp xung quanh núi Ba
Vì, địa hình tương đối bằng phẳng.
Theo độ cao địa hình, có thể phân ra các
mức địa hình: địa hình núi 300 m trở lên, địa hình đồi 15-250 m, địa hình đồng
bằng và thung lũng dưới 15 m.
3. Sông suối : Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu
bắt nguồn từ thượng nguồn núi Ba Vì và núi Viên Nam. Các suối lớn và dòng nhánh
chảy theo hướng Bắc, Đông Bắc và đều phụ lưu của sông Hồng. Ở phía Tây của khu
vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là
phụ lưu của sông Đà. Các suối này thường gây lũ và mùa mưa. Về mùa khô các suối
nhỏ thường cạn kiệt. Các suối chính trong khu vực gồm có: Suối Cái, suối Mít,
suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn…
Sông Đà chảy ở phía Nam núi Ba Vì, sông rộng
cùng với hệ suối khá dày như suối Ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan... thường
xuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng đệm. Bên cạnh
còn có các hồ chứa nước nhân tạo như hồ suối Hai, hồ Đồng Mô và các hồ chứa nước
khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục nghìn ha đất sản xuất
nông nghiệp và sinh hoạt cho dân. Nguồn nước ngầm trong khu vực tương đối dồi
dào, ở sườn Đông cũng dồi dào hơn bên sườn Tây do lượng mưa lớn hơn và địa hình
đỡ dốc hơn.
4. Khí hậu :Đặc điểm chung của Ba Vì bị chi phối bởi
các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên
khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ bình quân năm trong khu
vực là 23,40C. Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C;
nhiệt độ tối cao lên tới 420C. Ở độ cao 400 m nhiệt độ trung bình
năm 20,60C; Từ độ cao 1000 m trở lên nhiệt độ chỉ còn 160C.
Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20 C. Nhiệt độ cao tuyệt đối
33,10C.
Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, phân
bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí
86,1%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400 m trở lên
không có mùa khô. Mùa đông có gió Bắc với tần suất > 40%. Mùa hạ có gió Đông
Nam với tần suất 25%. Với đặc điểm này, đây là nơi nghỉ mát lý tưởng và khu du
lịch giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác.
5. Giao thông :Đường bộ: có quốc lộ 32 chạy qua thị trấn
Tây Đằng, nối Sơn Tây với Hưng Hóa tỉnh Phú Thọ và đi các tỉnh vùng Tây Bắc Bắc
Bộ. Trên quốc lộ này, đoạn cuối tại xã Thái Hòa, có cầu Trung Hà, bắc qua sông
Hồng.
Đường thủy: sông Hồng, sông Đà và sông
Tích.
6. Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực :Dân tộc và dân số: Trên địa bàn 16 xã có
5 dân tộc sinh sống: Mường, Kinh, Dao, Thái và Cao Lan. Dân số có 89.928 người
(năm 2008). Dân tộc Mường chiếm 65/%, Kinh chiếm 33%, Dao 1%, Thái, Cao Lan 1%.
Lao động và việc làm: Tổng số lao động
trong vùng chiếm 55% dân số chủ yếu lào làm nông nghiệp. Theo báo cáo của các địa
phương hiện còn 2.121 hộ nghèo, chiếm 10,3% số hộ trong vùng. Xã Khánh Thượng
là xã có tỷ lệ nghèo nhiều nhất. Cơ sở hạ tầng ở vùng đệm khá thuận lợi, các xã
đều có đường liên xã đã được trải nhựa, xe ô tô về đến trung tâm xã, đường từ
trung tâm xã đến các thôn còn là đường cấp phối và đường đất.

