humghn.com
Tài liệu đầy đủ các bạn download theo link sau : http://adf.ly/nfL8E
Thiếc là một trong những kim loại đầu
tiên mà loài người đã phát hiện được. Việc sử dụng nó làm hợp kim với đồng đã
trải qua một thời kì lâu
dài và quan
trọng trong thời đại đồ đồng. Đồng đen cổ nhất đã được tìm thấy ở Ơfrat (Messopotania)
vào 3500 – 3200 năm trước Công Nguyên. Vào khoảng 1800 – 1500 năm trước Công
Nguyên, ở Trung Quốc đã sử dụng rộng rãi đồng đen. Ngày xưa, ở Anh (mỏ Coocmuon), nam Trung Quốc, Bolivin, Liên Xô đã khai thác thiếc
với quy mô lớn.
Năm 1940, thế giới khai thác được
240.000 tấn (trừ Liên Xô). Năm 1957, thế giới sản xuất được 200.000 tấn (không
kể Liên Xô và Trung Quốc). Liên Xô đã phát hiện được nhiều vùng quặng thiếc rất lớn (Zabaical,
tiểu Khingan, Xkhote – Albitin và đặc biệt là trên lãnh thổ rộng lớn miền đông
bắc).
I.1. Khái quát về lịch sử tìm kiếm – khai thác thiếc ở Việt
Nam
Ở Việt Nam quặng thiếc có ở 3 khu vực
chính Cao Bằng, Sơn Dương và Quỳ Hợp. Theo kết quả tiềm kiếm – thăm dò trong
thời gian qua đã xác định tài nguyên thiếc 80 nghìn tấn, trữ lượng công nghiệp
50 nghìn tấn, trong đó trữ lượng ở các vùng quặng như sau:
Tĩnh Túc (Cao Bằng): 15 nghìn tấn thiếc
Sơn Dương (Tuyên Quang): 11 nghìn tấn thiếc
Quỳ Hợp (Nghệ An): 23 nghìn tấn thiếc
Bảng I.1. Sản lượng khai thác thiếc
qua các thời kỳ như sau (nghìn tấn SnO2)
Năm
|
1850
|
1913
|
1937
|
1941
|
1945
|
1950
|
1955
|
1960
|
1966
|
1971
|
1981
|
1991
|
1995
|
Sản lượng tính quặng
|
84
|
127
|
196
|
244,5
|
87
|
164
|
170
|
137
|
166
|
185
|
243
|
197
|
250
|
Từ 1910 đến 1914 thực dân Pháp đã
khai thác ở Pia Oac đươc 32.473 tấn Sn kèm theo 137 kg Au. Từ năm 1950 đến năm
1956 khai thác thủ công được 440 tấn SnO2; 1957 – 1980 sản lượng
khai thác ở vùng Pia Oac đạt 9.901 tấn SnO2 với hàm lượng trung bình
1305 g/m3. Ở Tam Đảo đạt 3.500 tấn SnO2 với hàm lượng
1348 g/m3. Trước năm 1988, sản lượng hàng năm chỉ đạt 600 tấn, năm
cao nhất 1000 tấn. Ở Sơn Dương khai thác từ 1965 đến 1984 được 4 nghìn tấn,
trung bình 210 tấn/năm. Hàm lượng thiếc trung bình 2400 g/m3. Ở Quỳ
Hợp khai thác từ 1961 với qui mô nhỏ.
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ
THIẾC
II.1. Tính chất
Thiếc là kim loại mềm, có màu trắng
bạc, dễ dát thành lát mỏng 0,005mm. Sn được ưa chuộng trong kỹ thuật và đời sống
do Sn có sức chống ăn mòn cao, muối Sn không độc, Sn dễ nấu chảy và có thể luyện
thành hợp kim cao cấp.
II.2. Đặc điểm khoáng vật
Thiếc tồn tại trong khoáng vật thuộc
các nhóm oXt, sulfostanat, surful, silicat, borat và niobat. Khoáng vật quan trọng nhất của thiếc là cassiterit
(SnO2) chứa 69-78 % Sn, stannin
(Cu2FeSnS4) chứa 19-24 % Sn, tilit (PbSnS2) chứa
30,4 % Sn, cylinđrit (Pb3Sn4Sb2S14)
chứa khoảng 25,12 % Sn, franckeit (Pb3Sn4Sb2S14)
chứa từ 9,5 - 17,1 % Sn. Tuy nhiên, chỉ có cassiterit
và stannin là tạo thành tụ khoáng. Cassiterit là khoáng vật
bền vững trong điều kiện phong hóa, do vậy có thể tạo nên những mỏ sa khoáng lớn,
ngược lại stannin rất dễ bị phá hủy, cho nên chỉ tồn tại trong quặng gốc.
Cassiterit (SnO2) với thành phần:
Sn = 78,62%; O = 21,38%; tỷ
trọng 6,8 – 7,1;
độ cứng 6 – 7
. Trong thực tế luôn có Fe, Mn, Ư,
Ta, Nb, In, Ge, Be, Zr, SiO2 đôi khi có cả V, Ni, Sb, Se… Tinh thể
có dạng lăng trụ thường hình kim đôi khi có dạng tháp đôi. Các mặt lăng trụ
thường vết thẳng đứng, còn các mặt của hình tháp lại có vết khía song song với
các cạnh của chúng. Rất hay gặp các song tinh cassiterit. Ngoài dạng kết tinh,
còn có dạng khác của cassiterit, đó là dạng thiếc thớ gỗ. Thiếc thớ gỗ thường
có dạng nhũ hình quả
lê, hình giọt nước với cấu tạo tỏa tia đồng tâm do các gel SnO2
đông kết.
Stannin (Cu2FeSnS4)
với thành phần lý thuyết: Cu = 29,6%, Fe = 13%, Sn = 27,6%, S = 29,8%; tỷ
trọng 4,3 – 5,2; độ cứng 3 – 4. Hàm lượng thiếc thực tế biến động từ 24,08 – 29,08%;
thường có Zn (đến 8,71%), Cd (đến 0,83%), Bi (đến 0,2%), Sb (0,2%), đôi khi có Pb
và Ag. Stannin thường rất ít gặp so với cassiterit; nó thường chỉ có mặt trong
các thành tạo quặng thiếc thuộc thành hệ cassiterit – surful. Ngoài
ra, người ta còn tìm thấy gần 40 khoáng vật khác nhau có chứa thiếc, tuy nhiên
các khoáng vật này ít phổ biến, và nếu có thì cũng không đủ hàm lượng để khai
thác công nghiệp. Hàm lượng thiếc tùy thuộc vào thành phần hóa học của khoáng vật.

