Nguần gốc địa chất và các loại hình mỏ Sắt và Bauxit ở Việt Nam kèm theo bản download miễn phí ( Update 2/5/2014 )

 humghn.com 

Tài liệu đầy đủ các bạn download tại đây : http://adf.ly/nfFrv
Sắt và nhôm là hai kim loại có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân . Chúng là những nguyên liệu không thể thiếu trong nhiều ngành kỹ thuật , công nghiệp . Hiểu được tầm quan trọng đó , bài viết hôm nay sẽ tiếp tục đề cập sâu các vấn đề về sắt và nhôm . Cụ thể là : " Nguần gốc , các loại hình mỏ Sắt và Bau Xit ở Việt Nam "
1. Tính chất địa hóa
  Sắt là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Fe và số hiệu nguyên tử bằng 26. Nằm ở phân nhóm VIIIB chu kỳ 4. Trọng lượng nguyên tử 55.85. Sắt có bốn đồng vị tự nhiên ổn định là Fe54, Fe56, Fe57 và Fe58. Sự phổ biến tương đối của các đồng vị sắt trong tự nhiên là: Fe54 (5,8%), Fe56 (91,7%), Fe57 (2,2%) và Fe58 (0,3%). Sắt là nhóm ưu đá và ưa lưu huỳnh. Sắt là một trong 2 kim loại  ( nhôm, sắt) phổ biến nhất trong vở Trái Đất, đứng sau O: 47%;  Si: 29.5%;  Al: 8.05%. Trị số trung bình (clack) trong vỏ Trái Đất của sắt là
4.65%.
  Trong tự nhiên, sắt chủ yếu tồn tại dưới dạng oxit và alumosilicat. Sắt có khả năng thay thế đồng hình cho Mn, Ni, Mg, Zn. Sắt hóa trị 3+ bền vững trong điều kiện ngoại sinh. Người ta cho rằng trong lòng Trái Đất sắt và niken đi cùng  nhau theo tỷ lệ tương đương thành phần trung bình của sao băng sắt ( Fe: 90%, Ni: 8.5%, Co: 0.5% và một  ít tạp chất khác). Theo tài liệu vật lý thiên văn thì sắt thuộc những nguyên tố đặc trưng cho toàn vũ trụ.
  Trong không khí, sắt bền vững,  mặt ngoài của sắt, thép thường bị xốp, đó là hiện tượng gỉ sắt. Trong thủy quyển, lượng sắt không đáng kể chiếm 5.10-6.5. Thạch quyển lượng sắt chiếm chủ yếu. Sắt liên quan chặt chẽ tới đá mafic và siêu mafic 8.56%, trong đá trung tính là 8.85%, trong đá axit 2.7%, trong đá trầm tích 3.33%. Sắt còn tham gia vào mỡ các động vật, thực vật, trong thành phần máu động vật.

2. Thành phần khoáng vật
  Sắt tham gia vào khoảng 300 loại  khoáng vật khác nhau, trong đó phải kể đến các loại như manhetit, hemait, manhezitmahetit inmenit, gơtit …
  Manhetit là một khoáng vật sắt từ có công thức hóa học Fe3O4, một trong các ôxít sắt và thuộc nhóm spinel do có cấu trúc tinh thể tương đồng.  Manhetit xuất hiện trong các quặng sắt có nguồn gốc  khác nhau: nội sinh, ngoại sinh, và biến chất. Manhetit là khoáng vật có từ tính mạnh nhất trong các khoáng vật xuất hiện trong thiên nhiên. Manhetit  có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu các điều kiện môi trường hình thành đá. Manhetit  phản ứng với oxy để tạo ra hematit, và cặp khoáng vật hình thành một vùng đệm có thể khống chế sự phá hủy của ôxy. Các đá mácma thông thường chứa các hạt của 2 dung dịch rắn, một bên là giữa Manhetit  và ulvospinel còn một bên là giữa ilmenit và hematit. Các thành phần của các cặp đôi khoáng vật được sử dụng để tính sự ôxy hóa diễn ra như thế nào trong macma (như sự phá hủy của oxy trong magma): một dãy các điều kiện oxi hóa được tìm thấy trong mácma và trạng thái oxy hóa giúp xác định làm thế nào máma có thể liên quan đến sự kết tinh phân đoạn.
  Các hạt Manhetit  nhỏ có mặt trong hầu đết các đá mácma và các đá biến chất. Manhetit  cũng được tìm thấy trong một số loại đá trầm tích như trong các thành hệ sắt phân dải. Trong một số đá mácma, các hạt giàu magnetit và ilmenit xuất hiện ở dạng kết tủa cùng nhau trong mácma. Manhetit  cũng được sản xuất từ peridotit  dunit bằng phương pháp serpentin hóa.
  Hematit Fe2O3  chứa 70% Fe và cí các tạp chất tố đồng hình Ti, Mg.  Hematit thành tạo trong điều kiện đầy đủ oxy, gặp trong nhiều loại quặng có nguồn gốc khác nhau. Trong thiên nhiên gặp loại quặng hematit không bền vững có từ tính mạnh gọi là machomit,  Hematit dạng tấm lớn gọi là speccularit, dạng vẩy gọi là mica sắt.
   Siderit FeCO còn gọi là spat sắt chứa 48.3% Fe thường có mặt các tạp tố đồng hình như Mg, Mn, Ca và các tạp chất cơ học SiO2, Al2O3
  Siderit được thành tạo trong điều kện thiếu oxy và thường gặp trong các mỏ quặng sắt nhiệt dịch, trầm tích, biến chất.

3. Quy mô mỏ
 Tùy thuộc vào con số về số lượng trữ lượng tài nguyên trong một mỏ, người ta phân loại mỏ quy mô như sau: mỏ khổng lồ, mỏ lớn, mỏ vừa và nhỏ. Bảng dưới đây thể hiện quy mô mỏ sắt ở một số nước trên thế giới.
Bảng Fe -1 : Quy mô mỏ sắt ở một số nước trên thế giới ( nguồn: Theo tài liệu tổng hợp của Trần Bình Chưa, 1996)
Quy mô mỏ
( tấn)
V.I
Krasninikov, 1960 ( Nga)
G.A Gross, 1966
( Canada)
Meloux. 1977( pháp)
Cục ĐC&KS Việt Nam 1986
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
Khổng lồ
n x 1010
>1 x 109
>2 x 109
> 107
Lớn
n x 109

2x109-x108
5x106-10x107
Vừa/trung bình
n x 108
1x109-1x 107
5x109-5x107
2x106-5x106
Nhỏ
n x 107
<1 x 107
5x107-5x106
<2 x 105
Không có giá trị độc lập
   <n x 106




4. Tài nguyên quặng sắt thế giới
Tiềm năng quặng sắt được đánh giá theo loại hình nguồn gốc mỏ ( hay kiểu nguồn gốc mỏ ) và theo thời đại sinh khoáng.
Mỏ trầm tích và mro trầm tích bị biến chất chiếm 65% trữ lượng tài nguyên, các mỏ phong hóa chiếm 25%, mỏ magma chiếm 10 %. Các mỏ Tiền Cambri chiếm 75%, các mỏ thuộc các thời đại khác chỉ chiếm 25%. Các mỏ sắt phân bố rất không đồng đều trong không gian và thời gian. Trữ lượng quặng sắt thế giới khoảng 330.000 triệu tấn (2004), trong đó Ucraina 68.000, Nga 56.000 Trung Quốc 46.000 ( bảng Fe -2)
Bảng Fe -2: Tài nguyên quặng sắt thế giới ( Nguồn thống kê sản phẩm khoáng sản mỹ năm 2004)
Country/ Các nước chủ yếu
ReserceBase/Trữ lượngcơsở triệu tấn
Australia
40000
Brazil
19000
Canada
3900
China
46000
India/ Ấn Độ
9800
Iran
2500
Kazakhstan
19000
Mauritania/Moritania
1500
Russia/Nga
56000
South Africa/ Nam Phi
2300
Sweden/ Thụy Điển
7800
Ukraine/Ucrain
68000
USA/ Mỹ
15000
Venezuela
6000
Other Countries/ Các nước khác
30000
World Total/ Tổng toàn thế giới
330000

5. Kinh tế nguyên liệu khoáng
Dựa vào trữ lượng quặng người ta chia ra thành 4 loại:
 - Mỏ cực lớn: n.1010 tấn
 - Mỏ lớn  : n.109 tấn
 - Mỏ trung bình ( vừa): n.108 tấn
 - Mỏ nhỏ: n.107 tấn
  Dựa vào thành phần khoáng vật người ta chia quặng sắt ra làm 6 loại quặng sau:
 - Quặng manhetit chứa 50 – 60% Fe
 - Quặng titanomanhetit chứa 55% Fe2O3
 - Quặng hematit và hidrohematit ( quặng sắt đỏ)  chứa 50 – 60% Fe
 - Quặng sắt nâu 40 – 50% Fe
 - Quặng siderit 30 – 35% Fe
 - Quặng silicat sắt 25 – 40% Fe
  Hiện nay trên thế giới ước đạt trữ lượng quắng sắt đã được thăm dò đạt 185 tỷ tấn, trữ lượng đánh giá chung 350 tỷ tấn. Liên Xô chiếm 1/3 trữ lượng quặng sắt  thăm dò và trữ lượng chung của thế giới.
 Hiện nay, có khoảng hơn 40 quốc gia khai thác quặng sắt. Liên Xô là nước khai thác nhiều quặng sắt nhất thế giới đạt 245 triệu tấn/ năm; sau đó là Braxin 107 triệu tấn, Úc 97 triệu tấn…
  Ở Việt Nam quy định mở sắt lớn có trữ lượng là n.108 tấn, mỏ vừa n.107 tấn, mỏ nhỏ n.106 tấn. Hàm lượng SiO2 + Al2O3 cao nhất là 25%, hàm lượng P cao nhất là 0.18%, hàm lượng S, Pb, Zn,As, Cu mỗi nguyên tố cao nhất là 0.1%.

6. Tình hình khai thác quặng sắt ở Việt Nam
Từ năm 1964 đến nay Việt Nam đã khai thác khoảng 8 -10 tấn quặng sắt, thu được gần 7 triệu tấn tinh quặng. Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên đang phấu đấu khai thác và tuyển 192.000 tấn quặng sắt (2009).
Hiện tại, công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên có công suất 550.000 tấn thép/ năm. Một số nhà máy cán thép liên doanh với nước ngoài cũng đã đi vào hoạt động với công suất đến năm 2010 là 8 triệu tấn thép/ năm, Việt Nam sản xuất 7-8 triệu tấn thép/năm, chủ yếu nguyên liệu là sắt thép phế liệu nhập ngoại.
Công ty TNHH Khoáng sản và Luyện Kim Việt Trung .Tổng Công ty thép Việt Nam và Tập đoàn Gang thép Công Gang, Trung Quốc sẽ khai thác 1,5 – 3 triệu tấn quặng/ năm mro Quý Xa, trong vòng 40-50 năm. Trên cơ sở nguyên liệu quặng sắt mro Quý Xa sẽ xây dựng và vận hành nahf máy gang thép tại khu công nghiệp Tằng Lổng vào năm 2015 dây chuyền cán thép công suất 500.000 tấn / năm
Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê ( TiC) với vốn điều lệ 2.400 tỷ đồng , Công ty Cổ phần sắt Thạch Khê ( TiC) với vốn điều lệ 2.400 tỷ đồng , Công ty khoáng sản & thương mại Hà Tĩnh 24%., Tổng công ty thép Việt Nam 20% đã làm lễ động thổ, mở vỉa mỏ Thạch Khê ( 8/9/2009). Dự án sẽ khai thác 10 triệu tấn quặng / năm, vốn đầu tư hơn 650 triệu đô la mỹ. Nhiều dự án nhà máy sản xuất thép đã và đang ra đời: Nhà máy liên hợp Thép Tycoon 100% vốn của Đài Loan 2 tỷ đô la mỹ. Dụ án Liên Hợp thép 100% vốn của tập đoàn Thép Posco ( Hàn Qốc) đặt ở Vân Phong công suất dự kiến gian đoạn I là 4 triệu tấn / năm, dự án Liên hợp thép liên danh Việt Nam – Malaixia tại Ninh Thuận, công suất dự kiến 4,5 triệu tấn thép/ năm.



 

Copyright @ 2013 Thông Tin Công Nghệ - Giải Trí & Học Tập.