humghn.com
link download đầy đủ : http://adf.ly/nzeyRI.1 :Nhóm khoáng sản kim loại
I.1.1. Sắt, hợp kim sắt
1. Sắt
Quặng sắt ở Việt Nam đã biết khoảng 230 tụ
khoáng và điểm khoáng, phân bố tập trung chủ yếu trong các tỉnh Hà Giang, Cao
Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh. Có 4 kiểu nguồn gốc chính: skarn, nhiệt dịch, biến chất và phong hóa.
- Quặng sắt skarn tuy có số lượng tụ khoáng đã biết không nhiều nhưng lại có tài nguyên và trữ lượng lớn nhất trong các nhóm tụ khoáng sắt, điển hình là tụ khoáng sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh). Tụ khoáng nằm trên vùng bờ biển, dưới lớp phủ 50-120 m, phân bố trên chiều dài hơn 3000 m, rộng 450-500 m, nơi rộng nhất tới 800 m, chiều dày trung bình thân quặng khoảng 200 m. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, một phần, ở phía đông bắc quặng bị phong hóa thành limonit, goethit nhưng vẫn có từ tính cao. Hàm lượng Fe thay đổi trong khoảng 30-75%, trong đó quặng giàu (50-65% Fe) chiếm chủ yếu. Tổng trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2) đã tính được khoảng 544 triệu tấn quặng [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]. Tụ khoáng này đã được thăm dò, đang được khai thác [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
- Quặng sắt skarn tuy có số lượng tụ khoáng đã biết không nhiều nhưng lại có tài nguyên và trữ lượng lớn nhất trong các nhóm tụ khoáng sắt, điển hình là tụ khoáng sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh). Tụ khoáng nằm trên vùng bờ biển, dưới lớp phủ 50-120 m, phân bố trên chiều dài hơn 3000 m, rộng 450-500 m, nơi rộng nhất tới 800 m, chiều dày trung bình thân quặng khoảng 200 m. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, một phần, ở phía đông bắc quặng bị phong hóa thành limonit, goethit nhưng vẫn có từ tính cao. Hàm lượng Fe thay đổi trong khoảng 30-75%, trong đó quặng giàu (50-65% Fe) chiếm chủ yếu. Tổng trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2) đã tính được khoảng 544 triệu tấn quặng [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]. Tụ khoáng này đã được thăm dò, đang được khai thác [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
Ngoài tụ khoáng Thạch Khê, quặng
sắt nguồn gốc skarn còn được biết ở một vài nơi khác như Bó Lếch, Ngườm Cháng,
Nà Rụa, Bản Lũng (Cao Bằng) và một vài nơi khác.
- Quặng sắt dạng mạch nhiệt dịch (nhiệt dịch-biến chất trao đổi) phân bố rộng rãi ở các tỉnh Hà Giang (Sàng Thần, Tòng Bá), Thái Nguyên (Trại Cau). Các tụ khoáng nguồn gốc nhiệt dịch chỉ có quy mô trung bình và nhỏ. Tụ khoáng có quy mô lớn nhất là Sàng Thần, có tổng trữ lượng khoảng 32 triệu tấn, Tiến Bộ (Thái Nguyên) khoảng 22 triệu tấn, Trại Cau (Thái Nguyên) khoảng 11 triệu tấn, Tòng Bá (Hà Giang) khoảng hơn 6 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
- Quặng sắt dạng mạch nhiệt dịch (nhiệt dịch-biến chất trao đổi) phân bố rộng rãi ở các tỉnh Hà Giang (Sàng Thần, Tòng Bá), Thái Nguyên (Trại Cau). Các tụ khoáng nguồn gốc nhiệt dịch chỉ có quy mô trung bình và nhỏ. Tụ khoáng có quy mô lớn nhất là Sàng Thần, có tổng trữ lượng khoảng 32 triệu tấn, Tiến Bộ (Thái Nguyên) khoảng 22 triệu tấn, Trại Cau (Thái Nguyên) khoảng 11 triệu tấn, Tòng Bá (Hà Giang) khoảng hơn 6 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
- Tụ khoáng quặng sắt kiểu quarzit sắt (trầm tích – biến chất) phổ biến trên diện tích phát triển các
thành tạo biến chất trên lãnh thổ các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ thuộc địa khu Hoàng
Liên Sơn. Vùng quặng sắt điển hình là Làng Mỵ-Hưng Khánh (Yên Bái) và Thanh Sơn
(Phú Thọ), trong đó vùng quặng sắt Làng Mỵ-Hưng Khánh đã được điều tra, đánh
giá còn một số tụ khoáng đã và đang được thăm dò tính trữ lượng; Vùng quặng sắt
Thanh Sơn có một số tụ khoáng đang được thăm dò. Quặng sắt dạng vỉa, dạng thấu
kính, chủ yếu chỉnh hợp với đá vây quanh, có nơi gặp quặng dạng mạch muộn xuyên
cắt các thành tạo biến chất. Quặng phân bố chủ yếu trong các tập quarzit phân
lớp, phân dải. Thành phần khoáng vật chủ yếu gồm magnetit và hematit, khoáng
vật không quặng chủ yếu là thạch anh. Hàm lượng quặng thường nghèo, thay đổi
trong khoảng 25-30% Fe. Tổng trữ lượng và tài nguyên quặng sắt vùng Làng
Mỵ-Hưng Khánh và lân cận khoảng 76 triệu tấn quặng, vùng Thanh Sơn khoảng 30-35
triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
- Quặng sắt nguồn gốc phong hóa
phân bố gần như trong hầu khắp các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, Trung Bộ. Số
lượng tụ khoáng quặng sắt thuộc nhóm này cũng chiếm ưu thế, gần 200 tụ khoáng.
Quặng có thành phần khoáng vật chủ yếu gồm limonit, goethit, được hình thành do
rửa lũa, làm giàu khoáng vật chứa sắt hoặc thấm đọng lấp đầy khe nứt. Các tụ
khoáng quặng sắt nguồn gốc phong hóa điển hình có quy mô lớn gồm tụ khoáng Quý
Xa (Lào Cai) có trữ lượng khoảng 135 triệu tấn quặng, vùng quặng Hương Sơn (Hà
Tĩnh)-với tài nguyên khoảng 6-7 triệu tấn; vùng quặng Mộ Đức (Quảng Ngãi) cói
tổng tài nguyên khoảng 8 triệu tấn [Bùi
Tất Hợp và nnk., 2007].
Một kiểu quặng sắt phong hóa phổ
biến, có tài nguyên rất lớn nhưng chưa được điều tra đây đủ là quặng phong hóa
laterit trên bề mặt các đá giàu khoáng vật sắt, điển hình là trên các bề mặt
phong hóa đá basalt vùng Tây Nguyên. Thành phần khoáng vật kiểu quăng này chủ
yếu là limonit, goethit và sét. Trước mắt, quặng laterit thích hợp cho sử dụng làm
phụ gia xi măng. Vấn đề lớn nhất cần giải quyết đối với loại quặng này để có
thể sử dụng cho luyện kim, là hàm lượng Al2O3 trong quặng
cao, có thể tới 10-15% gây ảnh hưởng lớn đến tiêu tốn nhiên liệu.
